Cafe Luật Khoa
—
Sau khi các binh đoàn quân Bắc Việt đã hoàn toàn làm chủ Sài Gòn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, trên bản in cùng ngày của tờ báo New York Times, biên tập viên kỳ cựu James Reston bình luận:
“Có lẽ là các sử gia sẽ đồng ý rằng chính các nhà báo và những chiếc camera đã đóng vai trò quyết định trong kết cục này. Họ đã mang vấn đề cuộc chiến tranh này đến với người dân, trước cả Quốc hội và hệ thống tòa án, và gây sức ép bắt quyền lực Hoa Kỳ phải rút lui khỏi Việt Nam.”
Lời bình luận của Reston chỉ là một ví dụ cho một luồng ý kiến về sau này được chia sẻ rộng rãi trong báo giới và giới sử học Mỹ trong các tranh luận về vai trò của truyền thông Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.
Nhìn chung, luồng ý kiến này khẳng định nền truyền thông Mỹ, bao gồm các tờ báo và kênh truyền hình truyền thanh của Mỹ, đã có một sức ảnh hưởng rất to lớn lên công luận Mỹ trong vấn đề chiến tranh Việt Nam. Chính nền truyền thông đó đã ‘lèo lái dư luận’ chuyển sang chống đối dữ dội sự can thiệp và tham chiến của Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Nhiều nhà bình luận theo khuynh hướng bảo thủ (conservative) đã dựa trên cơ sở ý kiến này mà công kích giới truyền thông theo khuynh hướng tự do (liberal), có phần thiên tả của Mỹ. Những nhà bình luận này cho là giới truyền thông tự do đã ‘cướp diễn đàn’ truyền thông Mỹ, từ bỏ tinh thần trung lập trong việc đưa tin để ‘định hướng dư luận’ quần chúng Mỹ chống lại nhà nước Mỹ trong vấn đề chiến tranh Việt Nam, góp phần buộc chính quyền Mỹ phải rút khỏi Việt Nam và theo đó trực tiếp đánh dấu chấm hết cho một cuộc chiến mà kết cục của nó, mượn lời ông Võ Văn Kiệt, đã làm triệu người vui mà cũng làm triệu người buồn.
Luồng ý kiến về vai trò quyết định của truyền thông và sự công kích màn ‘cướp diễn đàn’ của giới truyền thông tự do mang đến một số ngụ ý chính sách và luật pháp quan trọng cho các nhà chức trách Mỹ và nhiều nước khác trên thế giới: Phải chăng một nền truyền thông tự do, không kiểm soát và giới hạn không hẳn là một thứ hay ho gì?
Phải chăng, trong một số vấn đề nhất định, sự kiểm duyệt, kiểm soát và bưng bít truyền thông của chính phủ là cần thiết cho đại cục, để tránh một cơn bão dư luận có thể nhấn chìm việc thực hiện một mục đích quốc gia, quốc tế quan trọng nào đấy? Nói gọn, phải chăng tự do ngôn luận phải bị kiểm soát?
Trong tác phẩm “’Cuộc Chiến Không Bị Kiểm Duyệt’: Truyền Thông và Việt Nam” (‘The Uncensored War’: The Media and Vietnam) do nhà xuất bản đại học Oxford xuất bản năm 1986, tác giả, giáo sư sử học báo chí Daniel Hallin đã nghiên cứu kỹ lưỡng nội dung đưa tin của nền truyền thông Mỹ trong các năm chiến tranh Việt Nam, trong tương quan với các chính sách kiểm soát thông tin của quân đội và chính phủ Mỹ cùng thời kỳ, để tìm một câu trả lời cho các câu hỏi trên.
Café Luật Khoa tuần này xin được giới thiệu với ban đọc chương Kết Luận từ tác phẩm đặc sắc này của tác giả Daniel Hallin.
—
Trích đoạn “’Cuộc Chiến Không Bị Kiểm Duyệt’: Truyền Thông và Việt Nam”
Daniel C. Hallin (Nhà xuất bản đại học Oxford năm 1986)
“Nền truyền thông Mỹ đã “làm Mỹ thua trong chiến tranh Việt Nam”? Tôi tranh luận rằng câu hỏi này không phải là câu hỏi quan trọng nhất về vai trò của truyền thông trong cuộc chiến đó. Nhưng câu hỏi này đáng được xem xét đầu tiên, theo một cách trình bày chính xác và ít tính giật gân hơn.
Bình luận