Năm tháng sau khi nhóm tín đồ đầu tiên của tôn giáo Baha’i được lập ra, chính quyền Sài Gòn đã công nhận nhóm tín đồ này như một hiệp hội vào tháng 9/1955.
Tuy nhiên, sau khi Sài Gòn sụp đổ, tôn giáo này phải chờ đến 33 năm để được chính quyền Việt Nam công nhận vào năm 2008. Trong 11 năm tiếp theo, số tín đồ của tôn giáo này chỉ còn lại khoảng 1% so với thời Việt Nam Cộng hòa. [1]
“Baha’i Faith” là một tôn giáo được Mira Husayn Ali sáng lập vào năm 1863 tại Iran ngày nay. Ali tuyên bố là người dẫn dắt thế giới đi đến thống nhất trong hòa bình và thịnh vượng. Ali được các tín đồ tôn là Baha’u’llah, có nghĩa là “vinh quang của Thượng Đế”.
Bài viết này giới thiệu một số nhân vật nổi bật và những dấu mốc lịch sử của tôn giáo Baha’i tại Việt Nam.
Shirin Fozdar
Vào ngày 15/3/1954, một người phụ nữ Ấn Độ 49 tuổi đã thu hút báo chí Sài Gòn sau khi giới thiệu về tôn giáo Baha’i tại Nhà hát Norodom, nay là “khu đất vàng” số 23 đường Lê Duẩn.
Người phụ nữ ấy là nhà vận động quyền phụ nữ nổi tiếng Shirin Fozdar.
Năm 1950, cả bà Fozdar và chồng đến Singapore với sứ mệnh đưa tôn giáo Baha’i bén rễ ở khu vực Đông Nam Á. Đây là mục tiêu nằm trong “cuộc Thập tự chinh 10 năm” từ năm 1953 đến năm 1963 để bầu ra một cơ quan quản trị tối cao của tôn giáo này là “Tòa án Công lý Quốc tế” (xin không nhầm lẫn cơ quan này với Tòa án Công lý Quốc tế của Liên Hiệp Quốc).
Tại Singapore, bà Shirin đã rất thành công khi lãnh đạo phong trào chống lại chủ nghĩa đa thê và hôn nhân bất bình đẳng. Sự dấn thân này của bà Shirin cũng thể hiện đức tin của bà – bình đẳng giới, một trong những giá trị của tôn giáo Baha’i.
Jamshed Fozdar
Sau bốn tháng đến Sài Gòn, bà Shirin để lại công việc truyền giáo cho con trai của mình là Jamshed Fozdar. Jamshed nhanh chóng gây ấn tượng với Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Vào lúc này, Việt Nam vừa bị chia cắt thành hai miền. Nhiều nhà sư và những người theo Công giáo đã di cư vào miền Nam. Đời sống tâm linh ở miền Nam được tự chủ hơn hẳn miền Bắc.
Bình luận