Bài viết này nằm trong số báo tháng Mười năm 2022 của Luật Khoa tạp chí, được phát hành lần đầu trên ấn bản PDF đề ngày 6/10/2022.
Trước khi bắt đầu với sự lộn xộn của các đời tổng thống Hoa Kỳ, thói quen tiền hậu bất nhất của hệ thống chính trị lưỡng đảng, cũng như các quan điểm có phần đá chân nhau liên tục của họ, chúng ta trước tiên cần xác định điều gì là thống nhất trong chính sách Một Trung Quốc của các đời chính quyền Hoa Kỳ.
Ở một mặt nào đó, dù các chính quyền khác nhau với những cá nhân khác nhau của Hoa Kỳ sẽ theo đuổi các lợi ích chính sách khác nhau, nguyên tắc pháp quyền (rule of law), ở cả mặt pháp luật nội địa và pháp luật quốc tế, sẽ đặt ra những giới hạn nhất định cho các chính trị gia Hoa Kỳ. Nói cách khác, hành vi chính sách của các đời tổng thống sẽ bị giới hạn bởi một số văn bản pháp lý mà họ lập ra trong suốt giai đoạn ngoại giao mấy thập niên qua.
Vậy những văn bản quy phạm nào xác định lập trường cơ bản của Hoa Kỳ? Và chúng có điểm chung là gì?
Các văn bản quy phạm liên quan đến chính sách Một Trung Quốc
May mắn là không quá khó để có một cái nhìn cơ bản về Một Trung Quốc từ phía Hoa Kỳ. Trong các tài liệu, có năm văn bản chúng ta cần lưu ý và ghi nhớ:
Nhìn chung, chỉ cần đọc vài dòng mở màn của những văn bản này, chúng ta sẽ nhận ra Một Trung Quốc là một chính sách kỳ lạ và mập mờ đến như thế nào.
Đầu tiên, phải kể đến Thông cáo Thượng Hải 1972, văn bản ngoại giao đầu tiên giữa nhà nước Hoa Kỳ và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sau khi chính quyền Trung Hoa Dân Quốc bị loại khỏi Liên Hiệp Quốc vào năm 1971. [1]
Điểm thú vị là, ngay cả khi chính quyền của Trung Hoa Dân Quốc đã không còn bất kỳ vị thế chính trị nào trên trường quốc tế, và bản thân ông Nixon (Tổng thống) lẫn Henry Kissinger (có thể được xem là kiến trúc sư trưởng cho toàn bộ chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ giai đoạn này) đều được cho là đã “đi đêm” với chính quyền đại lục, Thông cáo Thượng Hải gửi gắm một thông điệp không thể mập mờ hơn từ phía Hoa Kỳ.
Theo đó, phía Hoa Kỳ:
“[…] thừa nhận quan điểm của người Trung Quốc ở cả hai phía của eo biển Đài Loan rằng chỉ có một Trung Quốc, và Đài Loan là một phần của Trung Quốc.
Nhà nước Hoa Kỳ không thách thức quan điểm này.
Chúng tôi cũng khẳng định lợi ích của mình trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan một cách hòa bình giữa người Trung Quốc với nhau […]” [2]
Hai vấn đề lớn trong thông điệp này được người viết in đậm để dễ theo dõi.
Một là, chính phủ Hoa Kỳ không công nhận hay thừa nhận bất kỳ điều gì liên quan đến chủ quyền của Trung Quốc đại lục lẫn Trung Hoa Dân Quốc ở Đài Loan.
Họ để cho người Trung Quốc ở cả hai phía tự giải quyết.
Thay vì tự mình công nhận rằng chỉ có một Trung Quốc, và Đài Loan là một phần của Trung Quốc, chính phủ Nixon thừa nhận rằng người Trung Quốc – dù là Trung Hoa Dân Quốc hay Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa – có quan điểm rằng Trung Quốc chỉ có một.
Điều này tạo ra rất nhiều không gian để các chính phủ Hoa Kỳ sau này có thể điều chỉnh diễn ngôn chính trị.
Ở một phương diện, thông điệp có thể được lý giải rằng chúng tôi thừa nhận là anh có quan điểm như vậy về Đài Loan, và tôi không có phản đối gì với quan điểm của riêng anh.
Nhưng quan điểm của tôi thì sao?
Tôi vẫn chưa đưa ra quan điểm cụ thể.
Ở phương diện khác, chính quyền Hoa Kỳ đưa ra thông điệp này vào thời điểm mà cả người Trung Quốc ở đại lục lẫn Đài Loan đều cho rằng Trung Quốc chỉ có một và Đài Loan là của Trung Quốc.
Trong tương lai, nếu một bên (như Đài Loan) không còn duy trì quan điểm như vậy thì sao? Thông điệp của Hoa Kỳ có thể sẽ thay đổi.
Nói cách khác, chính sách Một Trung Quốc của Hoa Kỳ được hình thành với ngôn từ mơ hồ có chủ đích, đồng thời với đó là đẩy trách nhiệm cho hai bên tranh chấp trực tiếp là Trung Quốc và Đài Loan, thay vì tự mình đưa ra một chính sách rõ ràng.
Vấn đề thứ hai là, sau khi đưa ra phiên bản Một Trung Quốc vô cùng bất định, người Mỹ lại khẳng định lợi ích của mình trong việc theo dõi và bảo đảm rằng xung đột về Đài Loan sẽ được giải quyết một cách hòa bình.
Điều này là một minh chứng rõ ràng hơn cho thấy Một Trung Quốc không phải là sự công nhận của Hoa Kỳ đối với chủ quyền của nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Bởi nếu Hoa Kỳ đã công nhận điều đó thì vấn đề Đài Loan trở thành vấn đề hoàn toàn nội bộ của Trung Quốc, và Hoa Kỳ sẽ không thể can thiệp vào cách thức giải quyết xung đột Đài Loan như vậy.
Thông cáo Thượng Hải 1972 có thể nói là tạo ra nền tảng cho toàn bộ lịch sử của sự mập mờ pháp lý từ Hoa Kỳ.
Tám năm sau, với hai đời tổng thống kế nhiệm, Thông cáo về Bình thường hóa Quan hệ Ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc năm 1979 tiếp tục sử dụng kỹ thuật và diễn ngôn của Thông cáo Thượng Hải. [3]
Một mặt, chính quyền Hoa Kỳ công nhận (recognize) Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là chính quyền hợp pháp duy nhất đại diện cho “toàn Trung Quốc”.
Tuy nhiên, Hoa Kỳ cũng khẳng định họ sẽ tiếp tục duy trì các mối quan hệ về văn hóa, thương mại, và các vấn đề quan hệ không chính thức khác với Đài Loan. Khái niệm Trung Quốc và Đài Loan dường như được tách rời khỏi nhau một cách có chủ đích.
Quan trọng hơn nữa, chính quyền Hoa Kỳ tiếp tục dừng lại ở mức thừa nhận (acknowledge) quan điểm của chính quyền Trung Quốc rằng chỉ có một Trung Quốc và Đài Loan là một phần của Trung Quốc.
Một lần nữa, Hoa Kỳ lại không tự mình “công nhận” chủ quyền Trung Quốc đến đâu và Đài Loan là của ai. Họ “thừa nhận” việc phía Trung Quốc có quan điểm rằng Đài Loan là một phần không thể tách rời của đại lục, nhưng việc họ có công nhận tương tự hay không lại là chuyện rất khác.
Bình luận