Bài viết này nằm trong số báo tháng Mười Hai năm 2022 của Luật Khoa tạp chí, được phát hành lần đầu trên ấn bản PDF đề ngày 1/12/2022.
Năm 2003, chính quyền Trung Quốc cho phép Hòa thượng Tinh Vân, một nhà sư đã nổi tiếng thế giới sau khi sáng lập một hội đoàn Phật giáo tại Đài Loan, được trở về quê nhà ở thành phố Dương Châu. [1]
Hai năm sau đó, chính quyền Việt Nam cũng cho phép thiền sư Thích Nhất Hạnh, cũng là một nhà sư nổi tiếng thế giới với tăng đoàn Làng Mai, hồi hương sau 30 năm ngăn cấm. [2]
Trùng hợp hơn, một sự kiện trọng đại khác của Phật giáo Việt Nam cũng theo sau Phật giáo Trung Quốc.
Năm 1980, chính quyền Trung Quốc đã tái lập Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc. [3] Trước đó, hiệp hội đã bị giải thể trong Cách mạng Văn hóa tàn khốc. Sau ngày tái lập, Bắc Kinh đã sử dụng hiệp hội như một công cụ để kiểm soát toàn bộ Phật giáo Trung Quốc.
Một năm sau, chính quyền Việt Nam thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) nhằm loại bỏ một tổ chức đã tồn tại trước đó ở miền Nam là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Kể từ đó, GHPGVN trở thành tổ chức duy nhất đại diện cho Phật giáo Việt Nam và gắn bó chặt chẽ với chính quyền.
Các sự kiện “sao y bản chính” như vậy đã khiến mô hình tổ chức Phật giáo Việt Nam khá tương đồng với Trung Quốc – quốc gia nổi tiếng là đàn áp tôn giáo. Cách tổ chức này lại rất khác so với các nước có cùng truyền thống Phật giáo Đại thừa như Hàn Quốc, Nhật Bản, hay Đài Loan.
Bình luận