Bài viết gốc được đăng trên trang của Trung tâm Nghiên cứu Việt - Mỹ (Đại học Oregon) ngày 27/12/2020. Với sự đồng ý từ trung tâm, Luật Khoa tạp chí biên tập và giới thiệu lại bài viết của nhà văn Trùng Dương - một hồi tưởng sâu sắc về thời các nữ nhà văn miền Nam trước 1975 viết văn, sống bằng văn, và sống cùng tự do.
Việc người cầm bút có thể sinh sống bằng nghề viết văn trong thời Việt Nam Cộng hòa (1954-1975) không chỉ diễn ra trong số các nhà văn nữ mà cả nam giới. Nhưng trong giới cầm bút phái nam thì không thể gọi là hiện tượng vì trong quá khứ, như trong thời tiền chiến (1930-1945), thời kỳ văn chương chữ Quốc ngữ nở rộ lần đầu, đã có nhiều nhà văn sống bằng ngòi bút của mình, qua các bộ môn tiểu thuyết, phóng sự, ký sự. Chỉ khi người phụ nữ vốn lâu nay chỉ sáng tác như một trò tiêu khiển, và nếu có lúc nào kiếm được lợi tức nuôi con cái thì không thể bằng ngòi bút, đã dùng ngòi bút để mưu sinh mới gọi là hiện tượng. Có nhiều lý do dẫn tới hiện tượng kể trên, mà tôi sẽ đề cập tới sau.
Nói chung về sự kiện văn học miền Nam nở rộ và tỏ ra phong phú hơn cả thời văn học tiền chiến, căn bản hơn cả vẫn là chế độ chính trị tại miền Nam tương đối tự do lúc ấy, trong đó có việc miền Nam mở ra đón nhận các luồng tư tưởng thời đại quan trọng của thế giới thay vì khép kín như nửa phần kia của đất nước. Điều kiện căn bản này đã giúp dung dưỡng sự phát triển các sinh hoạt văn học nghệ thuật nói chung, và việc xuất hiện của nhiều cây bút phái nữ nói riêng.
Thụy Khuê, có thể kể là nhà phê bình nữ đầu tiên của văn học Việt, trong bài biên khảo về văn học miền Nam, nêu ra thêm hai yếu tố căn bản nữa làm nền tảng cho sự bùng phát dù ngắn ngủi song phong phú, đa dạng của văn học miền Nam. [1] Theo chị, ngoài một thể chế chính trị tự do, hai yếu tố căn bản đó là:
Nền tảng – không khí tự do, kho tàng chữ Quốc ngữ lâu đời hơn ở miền Nam, và gia tài văn học thời tiền chiến mang vào từ miền Bắc – đóng vai trò như của một chiếc kiềng ba chân vững vàng, trên đó nền văn học miền Nam phát triển.
Hiện tượng nhiều người cầm bút phái nữ dần dà trở thành nhà văn chuyên nghiệp – nghĩa là có thể mưu sinh bằng ngòi bút – diễn ra bắt đầu từ khoảng giữa thập niên 1960 là nhờ một số yếu tố.
Về phương diện chính trị, từ sau khi chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ, chấm dứt nền Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963), miền Nam mất tới bốn năm trải qua nhiều xáo trộn chính trị do các tướng lãnh mải tranh chấp tranh giành quyền hành đảo chính chỉnh lý lẫn nhau, cho mãi tới năm 1967 mới tạm ổn định khi nền Đệ nhị Cộng hòa được thiết lập.
Trong thời kỳ giữa hai nền Cộng hòa, báo chí miền Nam vốn bị kềm kẹp dưới thời nhà Ngô bỗng bùng phát chưa từng thấy trong lịch sử, hầu như không bị kềm tỏa. Có một lúc, vào khoảng một năm sau cuộc đảo chính tháng 11 năm 1963, số nhật báo xuất bản là 91 tờ, đấy là không kể tạp chí, còn gọi là báo định kỳ. [2]
Hầu như mỗi đảng phái, mỗi nhóm đều cảm thấy phải có một cơ quan ngôn luận của riêng mình. Còn tạp chí, mỗi nhóm, phe, đoàn có một tờ tạp chí riêng làm nơi tụ họp, viết lách, xuất bản. Đây cũng là thời kỳ xẩy ra những vụ ám sát các nhân vật có tai mắt, tên tuổi của miền Nam, trong đó là hai vụ nổi tiếng trong giới báo chí, đó là vụ ám sát ký giả Từ Chung của nhật báo Chính Luận, và vụ ám sát hụt nhà văn nhà báo Chu Tử lúc ấy là chủ nhiệm báo Sống, vào giữa thập niên 1960. Tôi có viết lại vụ Chu Tử bị ám sát hụt trong bài viết nhân tưởng niệm ngày giỗ thứ 38 của ông. [3]
Bình luận