Bài viết tổng kết các lý do dẫn đến thành quả của văn học miền Nam từ 1954 tới 1975, thuật lại những động thái khai tử văn học miền Nam qua chiến dịch đốt và tịch thu các văn nghệ phẩm, cầm tù văn nghệ sĩ. Sau cùng là vài chia sẻ về những nỗ lực cá nhân và tự nguyện của tác giả để phục hồi văn học miền Nam tại hải ngoại.
Vừa đúng nửa thế kỷ trước, vào ngày 30 tháng Tư năm 1975, nền dân chủ duy nhất trong lịch sử Việt Nam cáo chung sau vỏn vẹn có 20 năm hiện hữu trước làn sóng xâm lăng của chủ nghĩa cộng sản. Gọi là nền dân chủ duy nhất ta có được vì suốt mấy ngàn năm tồn tại, Việt Nam nếu không nằm dưới chế độ quân chủ chuyên chế thì cũng bị đô hộ bởi ngoại bang, và từ 50 năm nay dưới một chế độ độc tài đảng trị.
Dù ngắn ngủi và phải xây dựng một quốc gia mới mẻ vừa thoát khỏi hơn 80 năm bị Pháp đô hộ, lại trong một cuộc chiến tàn khốc chống lại cộng sản chủ nghĩa để bảo vệ tự do, song miền Nam đã đạt được những thành quả đáng kể về nhiều phương diện: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và, đặc biệt hơn cả là giáo dục và văn học, nhất là văn học - một bộ môn ta có thể đo lường được qua tài liệu hiện còn được lưu trữ tại thư viện Quốc hội Hoa Kỳ và các trường đại học Mỹ, và từ hai thập niên qua trên Liên mạng [tức là Internet - BTV] nhờ những nỗ lực hoàn toàn cá nhân và tự nguyện.
Văn học miền Nam vẫn tồn tại mặc dù đã bị bức tử qua chiến dịch đốt sách và cả bắt bớ, cầm tù, đày đọa những người cầm bút tự do sau ngày Cộng sản Bắc Việt chiếm lĩnh miền Nam. Chẳng những hồi sinh và tồn tại mà nền văn học ấy đã và đang trở thành niềm cảm hứng cho các thế hệ người Việt kế tiếp không chỉ ở hải ngoại mà còn cả trong nước. Có lẽ chưa có một nền văn học nào trên thế giới có thể gặt hái được những thành quả trong một thời gian ngắn ngủi chưa đầy một thế hệ như vậy.
Bài viết này sẽ tổng kết các lý do dẫn đến thành quả của văn học miền Nam trong 20 năm, từ năm 1954 tới năm 1975 - một trong hai thời kỳ văn học phát triển có thể nói là rực rỡ và phong phú nhất của Việt Nam (sau nền văn học tiền chiến vào đầu thế kỷ 20). Tiếp theo là việc khai tử văn học miền Nam qua chiến dịch đốt và tịch thu các văn nghệ phẩm, cầm tù văn nghệ sĩ của Việt Cộng. Và kế là những nỗ lực cá nhân và tự nguyện để phục hồi văn học miền Nam tại hải ngoại và hiện trở thành nguồn cảm hứng cho các thế hệ người Việt yêu chuộng văn chương chữ nghĩa.
20 năm văn học tự do phát triển giữa thời chiến
Năm 1954, đất nước bị chia đôi, dẫn đến việc miền Bắc bị lọt vào quỹ đạo của chủ nghĩa cộng sản, gần một triệu người miền Bắc di cư vào Nam, cùng với sự hình thành của một quốc gia mới, Việt Nam Cộng hòa, đặt trên nền tảng dân chủ tự do thực chất - dù là tương đối - chứ không chỉ hiện diện trên giấy tờ như ở miền Bắc.
Người Bắc di cư vào Nam cũng đồng thời mang theo với họ toàn bộ nền văn học tiền chiến đã bị Đảng Cộng sản triệt tiêu tại miền Bắc. Cùng với người miền Nam, họ còn giúp duy trì văn nghệ phẩm của nhóm Nhân văn - Giai phẩm, vốn xuất hiện ngắn ngủi tại miền Bắc vào giữa thập niên 1950, khi các văn nghệ sĩ đòi quyền tự do sáng tác song đã bị chính quyền Cộng sản đàn áp và bóp nghẹt. Tác phẩm của họ đã “vượt tuyến” vào Nam và được học giả Hoàng Văn Chí xuất bản thành tuyển tập “Trăm hoa đua nở trên đất Bắc”, cuốn sách đã ảnh hưởng sâu đậm nơi người viết bài này khi mới ở tuổi đôi mươi.
Nhà phê bình Thụy Khuê, khi bàn về các nguyên nhân dẫn tới sự phát triển mạnh mẽ và phong phú trong vòng 20 năm của văn học miền Nam trong bài tiểu luận “Văn học miền Nam” (2007) đã nêu ra ba yếu tố, như một chiếc kiềng ba chân.
“Miền Nam […] có truyền thống quốc ngữ lâu đời, và chính tiếng Nam cũng lại là một nguồn ngôn ngữ đa dạng, đầy âm thanh và màu sắc đối với những nhà văn Bắc di cư; nhiều người đã dựa vào kho tàng mới này để làm giàu thêm cho ngôn ngữ văn chương của mình. Tóm lại, nhờ ba yếu tố:
1. Dựa trên nền móng quốc ngữ từ cuối thế kỷ XIX, cộng thêm tiếng Nam như một kho tàng ngôn ngữ mới,
2. Nhờ sự bảo tồn văn học tiền chiến và bảo lưu Nhân Văn Giai Phẩm trong thời kỳ chia đôi đất nước mà miền Nam không bị cắt đứt với quá khứ và hiện tại văn học của cả nước.
3. Nhờ sự nối kết với các trào lưu văn học và tư tưởng nước ngoài.
Mà miền Nam đã xây dựng được một nền văn học đa dạng trong hoàn cảnh chiến tranh và bất ổn chính trị.”
Đấy là nền móng mà trên đó văn học miền Nam được xây dựng. Nền văn học đó phát triển mạnh mẽ còn nhờ ở hệ thống giáo dục của Việt Nam Cộng hòa dựa trên nền tảng nhân bản, dân tộc và khai phóng.
Bình luận (4)
Số sách chính quyền tịch thu thì không biết làm gì, nhưng không có chuyện đốt sách như trong phim Indiana Jones đâu. Tôi phỏng đoán là trong lúc khó khăn, thiếu thốn, để nhóm bếp hoặc làm giấy vệ sinh cho đỡ lãng phí! Ngay video đăng trên Youtube về bài này cũng thú nhận là không đào đâu ra một bức ảnh đốt sách sau năm 1975, phải lấy một bức ảnh được chụp vào năm 1966 khi các sinh viên chống chính quyền đốt một thư viện của Mỹ tại Huế. Không phải là tư liệu khan hiếm nên khó tìm các ảnh đó, mà là không hề tồn tại những bức ảnh đó vì không hề có chuyện đốt sách, thế thôi!
Tôi đã nói ở trên là số sách ở tiệm mang về khá lớn, vẫn để trong nhà, có ai làm gì đâu? Rồi dần dà cho mượn không trả lại, dùng nhóm bếp cũng mấy năm sau mới hết. Tôi chỉ tiếc những bản dịch rất hay truyện tranh Tintin.
Chủ trương bài trừ văn hóa phẩm đồi trụy, phản động của chế độ Sài Gòn cũ, nói thì nhiều nhưng thực ra thi hành rất lỏng lẻo. Thời gian sau 1975 mà tôi vẫn còn thoải mái trao đổi với bạn bè các tiểu thuyết chống cộng hạng nặng như GIỜ THỨ 25, FIRST CIRCLE, LE ZÉRO ET L'INFINI v.v...
Với lại thực ra ở miền nam trước 1975 có thể xuất bản sách thì nhiều, nhưng có ai đưa ra được những sáng tác có giá trị không nhỉ? Còn mảng văn học nước ngoài thì chẳng hề có bản dịch tác phẩm của Homère, Dante, Goethe, Schiller. Shakespeare thì cũng chỉ có Bùi Giáng dịch Otello, mà là dịch không nghiêm chỉnh, thêm thắt lung tung. Còn có dịch giả Đỗ Khánh Hoan dịch vài vở kịch của tác giả này nhưng không bán được nên cũng thôi. Mà đó là những tác giả quan trong nhất của văn học Phương Tây. Ngay cả các tiểu thuyết của Victor Hugo, Honoré de Balzac, Stendhal, Émile Zola cũng không hề có bản dịch đầy đủ nào! Phải sau năm 1975 tôi mới được đọc các tác phẩm trên.
Thế thì thực ra sách báo của miền nam tuy nhiều nhưng có lẽ cũng chỉ đáng để nhóm bếp hoặc thay giấy vệ sinh. Không có gì phải luyến tiếc, buồn phiền cả.