Hoạt động thu thập dữ liệu người dân một cách tích cực của cả chính quyền lẫn doanh nghiệp trong thời kỳ “chuyển đổi số” đã đặt ra những ưu tư cho mỗi cá nhân đối với quyền làm chủ dữ liệu của họ.
Rốt cuộc, pháp luật đang bảo vệ quyền dữ liệu của cá nhân như thế nào? Liệu khung quy định pháp lý đã đủ rõ và đủ chặt? Và rằng, luật pháp đang quy định và bảo vệ dữ liệu của người dân theo cách bảo vệ một loại tài sản, hay một khía cạnh thuộc về nhân thân?
Đó có lẽ là những câu hỏi mà các cơ quan chức năng vẫn đang nợ người dân một nỗ lực làm rõ. Người dân cần được biết và cần hiểu rõ về những quyền lợi thiết thân của họ, để có thể thực thi quyền đầy đủ của mình và phát giác rõ những hành vi có dấu hiệu xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Bài viết này sẽ cố gắng gửi đến độc giả những giải đáp khái lược cho các câu hỏi vừa đặt ra. Đồng thời, cố gắng phân tích và chỉ ra những điểm chưa xác đáng, chưa chặt chẽ và còn đáng ngờ trong hệ thống luật định về dữ liệu cá nhân hiện nay.
Quyền với dữ liệu cá nhân: quyền nhân thân hay tài sản?
Câu hỏi này đã tạo nên làn sóng tranh luận giữa các nhà làm luật với vô vàn quan điểm. Cùng sự ra đời của máy tính, thuật ngữ “dữ liệu” xuất hiện và được dùng để chỉ các thông tin thuộc về máy tính như byte, bit bên trong bộ nhớ của các thiết bị điện tử… Bước tiến của thời gian và công nghệ đã mở rộng nội hàm của khái niệm “dữ liệu”.
Theo Quy định chung về bảo vệ dữ liệu (GDPR), dữ liệu cá nhân được hiểu là mọi thông tin gắn liền với một cá nhân đã được xác định hoặc có thể xác định được (chủ thể dữ liệu), dù trực tiếp hay gián tiếp. [1] Nhóm thông tin này bao gồm, chẳng hạn, tên, số nhận dạng, dữ liệu định vị, mã định danh trực tuyến, cũng như các dữ liệu liên quan đến đặc điểm thể chất, sinh học, di truyền, tâm lý, kinh tế hoặc văn hóa của cá nhân đó.
Trước năm 2023, tại Việt Nam, dữ liệu cá nhân chưa được định nghĩa một cách cụ thể, mà chỉ được quy định rải rác ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, như trong Bộ luật Dân sự 2015 quy định về bảo đảm an toàn với thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử của cá nhân; Luật An toàn thông tin mạng 2015 với định nghĩa về thông tin cá nhân. [2] Sau đó, định nghĩa ấy chính thức được nội luật hóa vào Nghị định 13/2023/NĐ-CP tại khoản 1 Điều 2. [3]
Làn sóng tranh luận nổ ra quanh việc: hiện giờ, nên xem quyền với dữ liệu là quyền nhân thân (bất khả xâm phạm, không định lượng bằng tiền và không thể chuyển nhượng); hay là quyền tài sản (được đo lường bằng tiền, được phép chuyển nhượng, định đoạt)?
Thử phân tích cách tiếp cận từ phía Việt Nam.
Ngay trong tám nguyên tắc cốt yếu được nêu ra trong văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam về dữ liệu cá nhân - Nghị định 13/2023/NĐ-CP - đã chế định rằng “Dữ liệu cá nhân không được mua bán dưới mọi hình thức, trừ trường hợp luật có quy định khác” (tại khoản 4, Điều 3).
Bình luận