Đơn kiện Qui Tam là một dạng kiện tụng đặc biệt của truyền thống Thông luật Anh-Mỹ. Qui Tam có nguồn gốc lâu đời, có thể đã khởi phát từ Luật La Mã.
Qui Tam ban đầu được áp dụng tại Vương quốc Anh với mục đích giúp vua chúa người Anh thực thi luật pháp, áp phép vua thay lệ làng. Nguyên tắc cơ bản là người dân ai sẵn sàng đứng ra đâm đơn kiện ra tòa một bên vi phạm pháp luật do nhà vua định ra thì khi vua tiến hành trừng phạt, tịch thu tài sản bên vi phạm pháp luật đó, nhà vua cũng sẽ đồng thời trích ra một phần tài sản tịch thu này để tưởng thưởng cho người dân đã đâm đơn kiện.
Nguyên tắc này được tóm gọn trong cụm châm ngôn Latin: “qui tam pro domino rege quam pro se ipso in hac parte sequitur”. Thế nên từ đó các đơn kiện dựa trên nguyên tắc này được gọi là đơn kiện qui tam.
Sang thế kỷ 19, nguyên tắc qui tam được vay mượn và đưa vào hệ thống luật Hoa Kỳ vào giai đoạn Nội chiến 1861-1865 bởi chính phủ của Tổng thống Abraham Lincoln. Mục đích của việc ứng dụng qui tam là để đối phó với tình trạng lừa đảo tràn lan trong các hoạt động mua sắm công trong thời chiến. Giữa cảnh đất nước đang chia cắt dầu sôi lửa bỏng, chính phủ Lincoln lại liên tục phát hiện có tình trạng những nhà thầu cung cấp quân nhu đạn dược ngựa chiến có hành vi cố tình lừa đảo, cung cấp hàng kém chất lượng và kê khai khống để ăn lợi nhuận.
Nhằm tăng cường việc quản lý, Đạo luật Chống Kê Khai Lừa Đảo (False Claims Act – sau này được gọi là Luật Lincoln) được ban hành. Đạo luật này áp dụng nguyên tắc qui tam và cho phép việc nhà nước Hoa Kỳ ‘thưởng’ cho các thường dân đâm đơn kiện hành vi kê khai lừa đảo chính phủ bằng tiền hay tài sản tịch thu được từ bên có hành vi kê khai lừa đảo. Người đâm đơn kiện qui tam sẽ được hưởng quy chế đặc biệt là người kiện thay mặt chính phủ và theo đó sẽ được tòa công nhận là nguyên đơn chính đáng dựa trên luật.