Hầu hết chúng ta khi nghĩ về quyền tự do báo chí Mỹ thì sẽ liên tưởng đến đó là một phần của quyền tự do ngôn luận được bảo vệ bởi Tu chính án thứ nhất (First Amendment) của Tuyên ngôn Dân quyền (the Bill of Rights). Điều này khá dễ hiểu vì các án lệ có liên quan đến tự do báo chí ở Mỹ đều xoay quanh Tu chính án này.
Tuy nhiên, như Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền đã nêu[1], các quyền con người, trong đó bao gồm quyền tự do ngôn luận và quyền tự do báo chí, vốn là những quyền mà một người mặc định là đã có từ khi sinh ra. Vì vậy, không hẳn chỉ khi nào Hiến pháp quy định đó là “quyền” thì một công dân mới được phép thực thi nó.
Trước khi 13 thuộc địa trở thành Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ, và khi bản Hiến pháp Mỹ còn chưa thành hình, thì một đoàn bồi thẩm tại thuộc địa New York vào năm 1735 đã tuyên phán vô tội đối với ông John Peter Zenger, một chủ nhà in bị cáo buộc tội mạ lỵ hình sự (criminal libel) vì những bài viết mà tờ báo độc lập do ông và những người bạn chủ trì đã xuất bản.
Lời tuyên bố vô tội dành cho ông Zenger gần 300 năm trước là sự khẳng định cho quyền tự do báo chí trước khi nó chính thức trở thành một trong những quyền Hiến định và là chuẩn mực cho các giá trị Mỹ.
Phán quyết của bồi thẩm đoàn New York khẳng định Zenger có quyền xuất bản các ấn phẩm báo chí và không hề phạm tội mạ lỵ vốn chẳng có căn cứ từ các nhà lập pháp, cũng không phải là tuyên phán của quan tòa, càng không phải là sắc lệnh của chính quyền. Mà đó là lời khẳng định của các bồi thẩm viên đến từ chính tiếng nói của công dân.