Bài viết này nằm trong số báo tháng Mười năm 2022 của Luật Khoa tạp chí, được phát hành lần đầu trên ấn bản PDF đề ngày 6/10/2022.
Người Đài Loan nói tiếng gì?
Câu hỏi tưởng chừng đơn giản này chưa bao giờ có câu trả lời giản đơn, cả trong lịch sử, hiện tại lẫn tương lai của đảo quốc.
Ngôn ngữ của người Đài gắn chặt với căn tính và vận mệnh của họ.
Muốn tìm hiểu, chúng ta vừa phải lần lại lịch sử Đài Loan, vừa phải đặt nó trong mối tương quan với Trung Quốc, và xóa đi một số hiểu lầm phổ biến về ngôn ngữ của các dân tộc người Hoa.
Trung Quốc: Cùng một thứ chữ, nhưng không cùng một thứ tiếng
Ngôn ngữ được dùng chính thức ở Trung Quốc là tiếng Quan thoại (官話, hay “Mandarin” trong tiếng Anh).
Giống như tên gọi, đây vốn dĩ là “tiếng của quan lại”, là tiếng nói của những người sống chủ yếu ở khu vực phía Bắc Trung Quốc. Từ “Mandarin” có nghĩa là quan chức, và sau được dùng để chỉ luôn thứ ngôn ngữ của các quan. [1]
Người dân sinh sống lâu đời ở mỗi vùng của Trung Quốc lại có một thứ tiếng riêng. Nhiều người trước nay vẫn gọi các thứ tiếng riêng đó là “phương ngôn” (方言 – dialect). Đây là cách nói không chính xác và dễ gây hiểu lầm.
Một người từ vùng này sang vùng khác sẽ không thể hiểu được người địa phương đang nói gì nếu không học trước thứ tiếng của vùng đó. Ví dụ như người Bắc Kinh sẽ không hiểu được tiếng Quảng Đông, hoặc người Quảng Đông sẽ không hiểu được tiếng Phúc Kiến.
Sự khác biệt này cũng lớn như người nói tiếng Anh không hiểu tiếng Pháp, hoặc người nói tiếng Pháp không hiểu tiếng Tây Ban Nha, dù các ngôn ngữ này đều có chung một gốc.
Dù có các thứ tiếng khác nhau, những người Hán ở Trung Quốc đều sử dụng chung một loại chữ viết (với một chút khác biệt nhỏ về từ vựng ở mỗi vùng). Những tộc người thiểu số khác, như người Tây Tạng, Mông Cổ hay Duy Ngô Nhĩ, có các loại chữ viết riêng và tiếng nói riêng của họ.
Vào đầu thế kỷ 20, các nỗ lực thống nhất ngôn ngữ ở Trung Quốc được đưa ra, và tiếng Quan thoại trở thành tiếng nói chính thức của cả nước. [2] Vì thế, nó còn được gọi là “quốc ngữ” (國語) hay “tiếng Phổ thông” (普通話).
Đài Loan trước thế kỷ 20: Tiếng Phổ thông không phải là ngôn ngữ phổ thông
Theo Britannica, phần lớn người gốc Hoa di dân từ đại lục đến Đài Loan vào khoảng thế kỷ 14 đến thế kỷ 17. [3] Những di dân đó chủ yếu là người Phúc Kiến (Hoklo hay Fujian) đến từ phía Nam tỉnh Phúc Kiến, và người Khách Gia (Hakka hay Kejia) đến từ tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến.
Người Phúc Kiến chiếm đa số, nên tiếng Mân Nam (閩南 hay Southern Min), một nhánh của tiếng Phúc Kiến, là ngôn ngữ phổ biến nhất tại Đài Loan cho tới đầu thế kỷ 20. Nó còn được gọi là “Đài ngữ” (台語 – Taigi hay Taiyu). Ngày nay, nói tới “tiếng Đài” là đang chỉ thứ tiếng này của người Phúc Kiến.
Trong giai đoạn Nhật cai trị Đài Loan, một cuộc điều tra dân số vào năm 1905 cho thấy hơn 80% người Đài Loan khi đó có gốc Phúc Kiến và nói tiếng Mân Nam. [4]
Phần còn lại là những người Khách Gia, nói tiếng Khách Gia, và các tộc người bản địa (aboriginal) với các thứ tiếng riêng của họ.
Năm 1945, Đài Loan được Nhật trao trả cho Trung Quốc. Năm 1949, chính phủ Quốc Dân Đảng (KMT) thua trong cuộc Nội chiến phải rút toàn bộ về Đài Loan. Trong giai đoạn này, hàng triệu người Trung Quốc từ đại lục chạy sang Đài Loan lánh nạn. Họ tạo thành một nhóm dân mới tại Đài Loan, được gọi là “người đại lục” (mainlander).
Những người đại lục này dùng tiếng Quan thoại, hay tiếng Phổ thông, nhưng do họ là thiểu số, tiếng Phổ thông vào thời điểm này không phải là thứ tiếng được dùng phổ biến tại Đài Loan.
Đài Loan dưới thời Nhật: Quốc ngữ xa lạ đầu tiên
Suốt nhiều thế kỷ, các sắc dân tại Đài Loan nói những thứ tiếng riêng của họ. Nỗ lực đầu tiên tạo ra quốc ngữ thống nhất ở Đài do chính phủ thực dân Nhật thực hiện.
Dù chỉ cai trị Đài Loan trong 50 năm (1895-1945), Nhật đã tạo ra ảnh hưởng lớn, thay đổi mọi mặt đời sống của người Đài Loan, từ việc xây dựng hạ tầng hiện đại đến áp đặt một thứ văn hóa mới. [5]
Tiếng Nhật là ngôn ngữ chính thức, được dạy trong các trường học ở Đài. [6] Số lượng người Đài Loan dùng song ngữ (vừa nói tiếng riêng của sắc tộc mình vừa nói tiếng Nhật) không ngừng tăng lên.
Năm 1937, chính quyền thực dân đưa ra chính sách Nhật Bản hóa (Japanization) triệt để, mục đích biến Đài Loan trở thành một xã hội “đơn ngôn ngữ” (monolingual), bắt tất cả người Đài đều nói tiếng Nhật.
Theo một thống kê của chính quyền, đến cuối năm 1943, hơn 80% dân số Đài Loan khi đó dùng “quốc ngữ Nhật”.
Dưới sự cai trị của người Nhật, người Đài Loan đã trải qua một sự thay đổi gần như lột xác, phải tiếp nhận một thứ ngôn ngữ xa lạ để làm ngôn ngữ chính của mình.
Đài Loan dưới thời Quốc Dân Đảng: Một thứ quốc ngữ xa lạ khác
Thay chân cho người Nhật, Quốc Dân Đảng đến và áp đặt một căn tính mới cho người Đài Loan.
Những người đại lục ở Đài Loan vào thập niên 1950 chỉ chiếm chưa tới 15% dân số, nhưng chính phủ Quốc Dân Đảng vẫn quyết tâm biến tiếng Quan thoại trở thành quốc ngữ của Đài Loan. [7]
Một phần là vì những người đại lục nói tiếng Quan thoại không thể hiểu được các thứ tiếng của người Phúc Kiến hay Khách Gia tại Đài Loan. Phần khác, Quốc Dân Đảng muốn biến Đài Loan thành căn cứ địa để khôi phục lực lượng, quay lại tái chiếm đại lục. Áp đặt tiếng Quan thoại, cùng với đó là một căn tính Trung Hoa lên toàn bộ người Đài Loan, là cách để chính quyền huy động nguồn lực của toàn dân cho mục tiêu chung.
Tuyệt đại đa số người Đài Loan không nói được tiếng Quan thoại tự động trở thành công dân hạng hai, chịu đủ sự bất lợi và kỳ thị, một vấn đề lặp lại như thời kỳ cai trị của Nhật.
Ngay cả những thành phần trí thức của Đài Loan cũng lao đao, bỗng nhiên từ giới có học trở thành “mù chữ”, nhất là khi họ đã bỏ ra nhiều công sức để tiếp thu tiếng Nhật.
Trong khi đó, các thứ tiếng được dùng phổ biến tại Đài của người Phúc Kiến, Khách Gia và các ngôn ngữ bản địa không được dạy trong trường, bị kỳ thị và đẩy ra ngoài rìa.
Đài Loan thời dân chủ: Tiếng Đài và các ngôn ngữ riêng được cởi trói
Kể từ khi tiến hành dân chủ hóa vào đầu thập niên 1990, tiếng Đài (Mân Nam), tiếng Khách Gia và các ngôn ngữ bản địa không còn bị hắt hủi.
Trước đó, trong các thời kỳ cai trị của Nhật rồi sau đó là Quốc Dân Đảng, phong trào cổ vũ tiếng Đài đã manh nha phát triển, đi kèm với đó là việc tạo ra một căn tính riêng cho người Đài Loan, khác biệt với những căn tính áp đặt từ các chế độ thực dân.
Sau khi dân chủ hóa, dưới áp lực của dư luận, chính quyền đã dần công nhận vai trò của các ngôn ngữ riêng tại Đài Loan. [8]
Năm 2001, Bộ Giáo dục công bố chính sách giáo dục dành cho các ngôn ngữ bản thổ (local language in education policy), đưa tiếng Đài, tiếng Khách Gia và các thứ tiếng của người bản địa thiểu số thành các lựa chọn trong chương trình giáo dục tiểu học.
Năm 2009, chính sách này được thay đổi, biến các chương trình trên trở thành nội dung bắt buộc với bậc tiểu học. Mục tiêu là để trẻ em có thể nắm vững ngôn ngữ mẹ đẻ (mother tongue).
Chính quyền còn tạo điều kiện cho những nhóm di dân mới bảo tồn tiếng mẹ đẻ của họ, truyền lại cho thế hệ sau, như chính sách thúc đẩy mở các khóa học ngôn ngữ kế thừa (heritage languages) vào năm 2011 dành cho con cháu của những di dân, trong đó có khuyến khích học tiếng Việt. [9]
Tiếng Quan thoại tuy vẫn còn là quốc ngữ tại Đài Loan, nhưng giờ đây nó đã không còn là thứ tiếng “mẹ đẻ mặc định”.
Các chương trình truyền hình, phát thanh bằng tiếng Đài, tiếng Khách Gia và cả các ngôn ngữ bản địa nở rộ. Các chính trị gia trong nhiều trường hợp ưu tiên dùng tiếng địa phương để thu hút cử tri. Các cuộc thảo luận về vai trò của tiếng Quan thoại, thậm chí là việc thay thế quốc ngữ bằng tiếng Đài diễn ra công khai và nhận được nhiều sự quan tâm của dư luận.
Tuy vậy, trong tương lai gần, điều đó khó xảy ra.
Một khảo sát về tiếng Đài được tiến hành vào năm 2010 cho thấy những người dưới 30 tuổi ở Đài Loan xem tiếng Quan thoại là ngôn ngữ chính hoặc tiếng mẹ đẻ của họ. [10] Những người từ 30 đến 60 tuổi thì xem cả tiếng Quan thoại lẫn tiếng Đài là ngôn ngữ mẹ đẻ. Trong khi đó, những người trên 60 dùng tiếng Đài như tiếng mẹ đẻ, với một bộ phận thông thạo tiếng Nhật.
Hai lần quốc ngữ hóa từ các chế độ thực dân, những mâu thuẫn xã hội phát sinh từ đó, và quá trình dân chủ hóa tạo ra các khoảng cách lớn về mặt ngôn ngữ giữa những thế hệ người Đài Loan, và một phần nào đó là sự khác biệt về căn tính dân tộc.
Những người xem tiếng Đài là tiếng mẹ đẻ nhiều khả năng có một ý thức xây dựng căn tính riêng, tách biệt với căn tính Trung Hoa đã được chính quyền Quốc Dân Đảng áp đặt vào thời kỳ thiết quân luật.
Nhưng điều đó không có nghĩa là những người ủng hộ giữ tiếng Quan thoại làm quốc ngữ thiếu căn tính riêng hoặc muốn thống nhất với Trung Quốc.
Chính quyền đại lục từ thập niên 1950 đã phổ biến việc sử dụng chữ giản thể (簡體 – simplified characters), một hình thức lược bỏ và đơn giản hóa chữ viết tiếng Hoa. Người Đài Loan thì vẫn giữ chữ phồn thể (繁體 – traditional characters), với đầy đủ các nét như truyền thống.
Ngoài ra, trong khi đại lục sử dụng hệ thống phiên âm Latin (pinyin) cho tiếng Quan thoại, Đài Loan lại dùng hệ thống chú âm (zhuyin), được phát minh trước đó vào đầu thế kỷ 20. [11]
Cùng với một số khác biệt trong phát âm và từ vựng, những điểm trên khiến nhiều người Đài Loan hài lòng với việc sử dụng tiếng Quan thoại như quốc ngữ, vừa có ích lợi khi giao thương với Trung Quốc, lại vừa giữ được những đặc tính riêng đủ để khác biệt với đại lục.
Chú thích
- mandarin noun – Definition, pictures, pronunciation and usage notes | Oxford Advanced Learner’s Dictionary at OxfordLearnersDictionaries.com. (n.d.). Retrieved September 19, 2022, from https://www.oxfordlearnersdictionaries.com/definition/english/mandarin ↑
- Chinese languages | History, Characteristics, Dialects, Types, & Facts. (2022, August 24). Encyclopedia Britannica. Retrieved September 19, 2022, from https://www.britannica.com/topic/Chinese-languages ↑
- Taiwan | History, Flag, Map, Capital, Population, & Facts. (2022, September 18). Encyclopedia Britannica. Retrieved September 19, 2022, from https://www.britannica.com/place/Taiwan ↑
- Shei, C. C. (2021, March 4). Taiwan: Manipulation of Ideology and Struggle for Identity. Routledge. Page 56. ↑
- Taiwan – Taiwan as part of the Japanese empire. (n.d.). Encyclopedia Britannica. Retrieved September 19, 2022, from https://www.britannica.com/place/Taiwan/Taiwan-as-part-of-the-Japanese-empire ↑
- The National-language Movement in Colonial Taiwan, 1937-1945. (n.d.). Retrieved September 19, 2022, from http://saturn.ihp.sinica.edu.tw/%7Ehuangkc/nhist/6-2CY.html ↑
- Amazon.com: Democratizing Taiwan: 9789004221543: J. Bruce Jacobs: Books. (n.d.). Page 6. Retrieved September 12, 2022, from https://www.amazon.com/Democratizing-Taiwan-J-Bruce-Jacobs/dp/9004221549 ↑
- Shei, C. C. (2021, March 4). Taiwan: Manipulation of Ideology and Struggle for Identity. Routledge. Page 111. ↑
- Yeh, Yu-Ching & Ho, Hsiang-Ju & Chen, Ming-Chung. (2014). Learning Vietnamese as a heritage language in Taiwan. Journal of Multilingual and Multicultural Development. 36. 1-11. 10.1080/01434632.2014.912284. ↑
- Shei, C. C. (2021, March 4). Taiwan: Manipulation of Ideology and Struggle for Identity. Routledge. Page 99. ↑
- What Is the Bopomofo Chinese Phonetic System? (2019, January 27). ThoughtCo. Retrieved September 19, 2022, from https://www.thoughtco.com/bopomofo-zhuyin-fuhao-2279518 ↑
Bình luận