Không lâu sau ngày nhậm chức tổng bí thư Đảng Cộng Sản (3/8/2024), ông Tô Lâm đã phát động một “cuộc đại phẫu” bộ máy chính quyền.
Ban đầu, cuộc tinh gọn bộ máy diễn ra với việc sắp xếp hàng loạt các cơ quan của đảng, Chính phủ, Quốc hội.
Nay, “cuộc cách mạng” này bước sang giai đoạn sáp nhập tỉnh, thành; bỏ cấp huyện; và sắp xếp lại cấp xã.
Trong lịch sử, Việt Nam đã có nhiều lần sắp xếp các đơn vị hành chính, nhập tách tỉnh, thành. Mỗi thời kỳ đều gắn với những biến động chính trị nhất định.
Luật Khoa tạp chí giới thiệu với độc giả bài viết của tác giả Minh Khê, về một số cột mốc lịch sử sắp xếp đơn vị hành chính ở Việt Nam từ năm 1802 đến nay.
Từ năm 1802 đến năm 1858
Vùng địa giới hành chính của Việt Nam ngày nay được định hình rõ nét nhất dưới triều đại nhà Nguyễn (1802 - 1945), triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.
Dưới thời vua Gia Long, triều Nguyễn lần đầu tiên thiết lập hệ thống hành chính thống nhất trên toàn quốc, từ Bắc chí Nam, từ đất liền đến hải đảo, đặt nền tảng cho cấu trúc địa lý và hành chính của nước Việt Nam hiện đại.
Tuy vậy, quá trình cải cách hành chính dưới một nước Việt Nam độc lập kéo dài trong khoảng 82 năm (1802 - 1884).
Từ sau Hòa ước Giáp Thân ký với Pháp vào năm 1884, triều đình Huế mất dần quyền kiểm soát thực tế, và nước Việt Nam rơi vào ách cai trị của thực dân Pháp dưới hình thức bảo hộ.
Gia Long (1802 - 1820)
Từ năm 1802, sau khi đánh bại quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với hiệu là Gia Long.
Lê Thành Khôi trong quyển Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ 20 có đề cập: “Sau hai thế kỷ chia cắt, quốc gia được tái thống nhất nhờ nỗ lực của cả một dân tộc. Họ Nguyễn sáp nhập cả vùng châu thổ sông Mê Kông, vốn chiếm được từ Chân Lạp, vào vương quốc của họ Lê”. [1]
Tuy vậy, toàn lãnh thổ lúc này vẫn tồn tại nhiều mô hình quản lý khác nhau.
Đàng Ngoài từng do vua Lê - chúa Trịnh cai quản qua mấy trăm năm, tồn tại hệ thống tổ chức xứ - đạo, còn Đàng Trong theo hệ thống dinh - trấn. [2] [3] Chưa kể, quốc gia còn đang chịu ảnh hưởng trực tiếp từ mô hình tổ chức của nhà Tây Sơn.
Do đó, ngoài việc cấp thiết đổi quốc hiệu thành Việt Nam, đặt thủ đô tại Phú Xuân (Huế ngày nay), triều Nguyễn phải tổ chức lại bộ máy chính quyền. [4]
Theo Trần Trọng Kim, việc tổ chức lại để có một hệ thống quản lý địa phương hiệu quả cũng nhằm để giữ vững an ninh quốc nội. [5]
Vua Gia Long đã tổ chức mô hình chính quyền theo bốn cấp, gồm trung ương, địa hạt, trấn, và dưới trấn. [6]
Ở thời vua Gia Long, đất nước có ba vùng lãnh thổ lớn là Bắc Hà, Trung Hà, Nam Hà.
Trong đó, Bắc Hà (từ Ninh Bình trở ra Bắc, có thủ phủ tại Bắc Thành thuộc Hà Nội) quản lý 11 trấn, gồm năm nội trấn là Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương và sáu ngoại trấn là Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Yên. [8]
Trung Hà (vùng Kinh Kỳ, từ Thanh Hóa đến Bình Thuận) gồm kinh đô Phú Xuân và tám trấn là Thanh Hóa, Nghệ An, Nghĩa Quảng, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận.
Nam Hà (từ Bình Thuận trở vào Nam) có thủ phủ tại Gia Định thành, quản lý năm trấn và một đạo. Cụ thể gồm Gia Định (thành lập năm 1802), Biên Hòa (1808), Vĩnh Thanh (1814, là Vĩnh Long và An Giang sau này), Định Tường (1808, phần đất nằm giữa sông Tiền và sông Vàm Cỏ Tây, nay tương ứng với các tỉnh Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp), Hà Tiên (ngày nay phần đất này tương ứng với tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, đảo Phú Quốc, một phần Campuchia), và Đạo Châu Đốc. [9]
Đồng thời, còn có bốn doanh tiếp giáp với hoàng triều (kinh đô Phú Xuân) gồm: Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, và Quảng Nam. [10] [11]
Minh Mạng (1820 - 1840)
Sau khi Nguyễn Ánh mất (3/2/1820), con trai là Nguyễn Phúc Đảm lên ngôi, lấy niên hiệu là Minh Mạng.
Trong suốt 20 năm trị vì, vua Minh Mạng đã sắp xếp lại địa giới hành chính quốc gia.
Trong đó, nổi bật nhất xóa bỏ hệ thống thành và trấn để chia cả nước bằng tỉnh. [12] [13]
Tổng cộng, vua Minh Mạng đã chia cả nước thành 31 đơn vị hành chính cấp tỉnh, bao gồm 30 tỉnh và một phủ Thừa Thiên (kinh đô).
Từ năm 1831 - 1832, vua Minh Mạng đã thiết lập hệ thống hành chính gồm bốn cấp: tỉnh, phủ, huyện/châu, tổng, xã.
Theo Đại Nam thực lục, đến năm Giáp Ngọ (1834), vua Minh Mạng chia Việt Nam thành Bắc Kỳ, Trung Kỳ, và Nam Kỳ. [14]
Trong đó, Bắc Kỳ có 13 tỉnh, Trung Kỳ có 11 tỉnh và một phủ, Nam Kỳ được chia thành lục tỉnh (sáu tỉnh).
Kỳ (tên gọi bắt đầu từ năm 1834)
Tỉnh (tên gọi bắt đầu từ năm 1832)
Bắc Kỳ
Hà Nội, Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Nguyên.
Bình luận