Trong bài trước, ba điểm nghẽn lớn nhất của cơ chế thu hồi đất ở Việt Nam đã lộ ra khá rõ: thu hồi để làm gì thì không nói cho hết, quy trình diễn ra thế nào thì dân khó biết, còn đền bù ra sao lại thường để lại cảm giác không thỏa đáng.
Nhiều người hay nghĩ lỗi nằm ở khâu thực hiện của địa phương, nhưng gốc rễ của vấn đề nằm ngay trong luật.
Dựa theo bài nghiên cứu được công bố vào năm 2022 mang tên “The Constitutionality of Compulsory Land Acquisition in Vietnam: Issues and Recommendations” (tạm dịch: Tính hợp hiến của việc thu hồi đất bắt buộc tại Việt Nam: Các vấn đề và khuyến nghị) của hai giáo sư luật Phan Trung Hiền (Đại học Cần Thơ) và Hugh D. Spitzer (Đại học Washington), bài viết này đi thẳng vào câu hỏi mà hầu như bất kỳ tranh chấp đất đai nào cũng dẫn về: [1]
Việt Nam nên sửa luật thế nào để việc thu hồi đất bớt rối, bớt oan và bớt đẩy người dân vào thế đối đầu với chính quyền?
Thứ nhất, phải thu hẹp lại quyền thu hồi đất của nhà nước
Đây là sửa đổi quan trọng nhất.
Hiến pháp 2013 cho phép nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, và “phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia và công cộng”. [2] Vấn đề nằm ở chỗ cụm từ “phát triển kinh tế - xã hội” quá rộng.
Sự mơ hồ ấy mở ra khả năng dùng quyền lực công để lấy đất của dân cho những dự án mà bản chất là hoạt động kinh doanh thương mại.
Đây là chỗ cần sửa đầu tiên: luật phải phân biệt thật rạch ròi đâu là dự án công thực sự, đâu là dự án tư nhân.
Nhà nước chỉ được thu hồi đất cho mục đích công cộng thật sự, còn dự án tư nhân thì nhà đầu tư phải tự thương lượng với chủ đất, chứ không thể trông chờ nhà nước đứng ra thu hồi đất thay.
Lợi ích của cách sửa này rất rõ.
Thứ nhất, nó chặn bớt nguy cơ mượn danh lợi ích công để phục vụ lợi ích tư.
Thứ hai, nó làm giảm xung đột, vì người dân sẽ có vị thế thương lượng tốt hơn.
Thứ ba, nó buộc nhà đầu tư phải tính đúng chi phí đất đai của dự án, thay vì dựa vào cơ chế hành chính để có đất rẻ.
Bình luận