“Phong trào này có quy mô rất lớn, quả thật đã hiệu triệu được quần chúng; điều đó có ý nghĩa rất lớn đối với việc làm cách mạng tư tưởng của toàn dân.”

Mao Trạch Đông - nói với Hồng vệ binh ngày 18/8/1966,  trong cuộc tiếp kiến thứ nhất.

Quý độc giả thân mến,

Ắt hẳn nhiều người cũng nhận thấy, bao phủ mạng xã hội và những không gian ngôn luận công cộng trong tháng Bảy vừa qua là một bầu không khí đấu tố nặng trĩu. Nơi trung tâm của cơn bão đấu tố ấy là một quyển sách bị cho là “xúc phạm” lãnh tụ, kéo theo năm con người - gồm tác giả và những người làm truyền thông, xuất bản cho cuốn sách - rơi vào vòng lao lý.

Câu chuyện đấu tố sách vở, trí thức vốn cũng không có gì lạ. Ở Việt Nam hay tại những nước cộng sản “anh em”, lối hành xử này đã thành một bộ phận thiết thân, đáng kể của lịch sử cách mạng. 

Gần 70 năm trước, Boris Pasternak và danh tác Bác sĩ Zhivago của ông đã trở thành đối tượng bị khắp Liên Xô kịch liệt đấu tố. Vì nhận cáo buộc “chống Xô-viết”, một tác phẩm được tuyên giải Nobel Văn chương (1958) lại không được xuất bản lần đầu tại cố thổ bằng ngôn ngữ gốc. Tác giả của nó bị chính quyền Liên Xô đe dọa trục xuất, và vì lẽ an toàn, ông đã phải từ chối nhận giải thưởng danh giá bậc nhất làng văn.

Ngót bảy thập niên trước, tại Việt Nam cũng đã nổ ra một cao trào đấu tố văn nghệ - sự kiện Nhân Văn - Giai Phẩm. Cũng với các cáo buộc “phản động”, “phản cách mạng”, hai tờ báo đã bị đình bản, hơn 300 trí thức, văn nghệ sĩ bị xử lý, từ án kỷ luật, cải tạo, cho đến án tù. Nhiều người suốt mấy thập niên sau đó đã phải sống trong sự cô lập, hoặc đã phải từ bỏ căn tính cầm bút của mình.

Và ngay thời điểm này của tròn 60 năm trước, Trung Quốc chuẩn bị bước vào chuỗi ngày đen tối mà sử sách gọi là “Tháng Tám Đỏ” (红八月) - một trong những sự kiện mở màn cuộc Cách mạng Văn hóa khét tiếng. 

Trong tháng 8/1966, những toán Hồng vệ binh trong các đợt đấu tố, truy bức nhân danh chống phần tử “phản cách mạng” đã làm chết hơn 10.000 người ở Bắc Kinh. Lời phát biểu ca ngợi Hồng vệ binh của Mao Trạch Đông được dẫn ra ở đầu bài chính là một trong những tiếng trống trận trước thềm cuộc đồ sát năm ấy.

Có lẽ, ở những nơi mà việc bày tỏ ý kiến phản biện bị xem là đe dọa “an ninh chế độ”, thì bất kỳ hành xử, quan điểm nào khác với “chính thống” đều bị đưa vào tầm ngắm.

Sự thảm khốc của Cách mạng Văn hóa là điều nhiều người đã biết đến - khi con số thiệt mạng lên tới hàng triệu người. Từ chỗ đó, tên của sự kiện này cùng với danh từ “Hồng vệ binh” đã trở thành nỗi ám ảnh bao trùm. Nhắc đến nó là gợi lại bầu tử khí của những vụ thảm sát, sự căng bức của các đại hội phê-đấu, cùng những cuộc bức hại, làm nhục, v.v.

Không ngẫu nhiên mà nhiều người đã liên hệ sự kiện này với bầu không khí đấu tố trong tháng Bảy vừa qua, dù rằng, ai cũng thấy quy mô và độ khốc liệt của Cách mạng Văn hóa vốn khủng khiếp hơn nhiều lần. Thế nhưng, giữa hai sự kiện ấy vẫn có mấy điều tương tự: Cũng là tuyên những bản án “tư tưởng”. Cũng là các cáo buộc “phản động”, “chống phá”. Cũng là làn sóng hăng say chỉ trích, luận tội không mệt mỏi với bất kỳ ai, kể cả “phe mình”. 

Trong Cách mạng Văn hóa, đến những lãnh đạo cấp cao của đảng như Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài, Đặng Tiểu Bình cũng trở thành nạn nhân. Trong tháng Bảy vừa qua, không chỉ một “fan hâm mộ” của cụ Hồ - vốn phải là “phe mình” - bị nhắm đến, mà ngay cả một… ủy viên Trung ương Đảng cũng không được xem là ngoại lệ.

Và cuộc chiến nào cũng phải có quân.

Tương tự cuộc ra quân của những toán Hồng vệ binh năm nào, “mặt trận văn hóa - văn nghệ” nước nhà tháng vừa qua đã chứng kiến sự xông xáo “đấu tranh” của các “hồng cựu binh” chưa quên mùi hỏa dược. Công cuộc đấu tố của họ đã kết án quyển sách “Chuyện với Thanh” và những cá nhân liên quan đến cuốn sách còn trước cả nhà cầm quyền. 

Nhưng không chỉ trong tháng Bảy, “cuộc chiến” của các “hồng cựu binh” đã diễn ra từ lâu trước đó. Ngay từ thời điểm ông Tô Lâm bước lên đỉnh cao quyền lực, ngòi bút trong tay những nhân vật như Phan Trung Can hay Nguyễn Thanh Tuấn đã trở thành vũ khí đấu tranh, và bao vụ đấu tố đã từ đó liên tiếp “thượng đài”.

Nào chuyện nghệ sĩ diễn bên quốc kỳ Việt Nam Cộng hòa; chuyện một tiểu thuyết từ chối viết về chiến tranh bằng lối anh hùng ca truyền thống; một cuốn sách không chịu kể về Nguyễn Tất Thành theo cách ca tụng thường gặp; cho đến việc một đề thi Lịch sử gọi “chính quyền Sài Gòn” thay vì “ngụy quyền”; hay chuyện đáp án đề thi Ngữ văn đề cập đến giáo dục khai phóng, v.v. 

Công cuộc chinh chiến giữa thời bình của họ đã phản ánh một xã hội Việt Nam dường như đâu đâu cũng có “kẻ thù”, và đã góp phần biến đấu tố trở thành một sinh hoạt quen thuộc của đời sống trong nước. Những “chiến sĩ” trong chiến dịch này vô hình trung còn trở thành tai mắt giám sát cách suy nghĩ, cách nói năng của quần chúng, và ngay khi phát hiện vấn đề, họ lại lập tức sắm vai chiếc loa hô hào sự trừng phạt.

Chúng tôi muốn gọi đó là một cuộc “Tiểu Cách mạng Văn hóa”, phần vì nhận thấy có một vài giao điểm giữa hai sự kiện như đã nêu trên, phần vì để nhắc nhở về những mất mát to lớn có thể xảy đến khi người người cứ liên tục đấu tố nhau, nhân danh bảo vệ một ý thức hệ chính trị.

Đọc lịch sử, ai cũng biết Mao Trạch Đông và đảng của ông đã vứt bỏ Hồng vệ binh thế nào. Từ chỗ một lực lượng cách mạng tiên phong được ca tụng, bị đày ải “lên núi, xuống làng”, bị ô danh, phải dùng phần đời còn lại để gánh tội thay các lãnh đạo đảng trước sai lầm của một giai đoạn Cách mạng Văn hóa. 

Nói Mao Chủ tịch “vắt chanh, bỏ vỏ” cũng không sai. Mà nói các Hồng vệ binh “leo cao, ngã đau” cũng không quá.

Nhìn xưa rồi lại ngẫm nay, không rõ cuộc “Tiểu Cách mạng Văn hóa” những ngày qua sẽ diễn biến đến bước nào, và mai này những “hồng cựu binh” đầy “trung can, nghĩa đảm” sẽ ra sao.

Ban Biên tập Luật Khoa tạp chí